Lịch sử
LỊCH SỬ
TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH
CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG BỘ
VÀ NHÂN DÂN XÃ HÒA KHÁNH
(HUYỆN ĐỨC HÒA-TỈNH LONG AN)
(1930-1975)
LỜI NÓI ĐẦU
Nhằm ôn lại truyền thống chặng đường 45 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Đảng bộ và nhân dân, lực lượng vũ trang xã Hoà Khánh. Đồng thời để bày tỏ trị ấn công lao to lớn của những bậc tiền bối đi trước, ghi nhận sự hy sinh cao cả của các anh hùng Liệt sĩ đã đóng góp máu xương tô thắm cho truyền thống Đảng bộ và nhân dân lực lượng vũ trang Hoà Khánh anh hùng. Đồng thời làm tài liệu quý báu để giáo dục học tập cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau noi gương.
Thực hiện Chỉ thị của Tỉnh uỷ Long An, Chỉ thị Huyện uỷ Đức Hoà về công tác biên soạn lịch sử Đảng bộ xã-thị trấn trong giai đoạn kháng chiến chống pháp và chống Mỹ. Đảng bộ Xã Hòa Khánh Nam, Hòa Khánh Tây, Hoà Khánh Đông bàn bạc thống nhất tiến hành nghiên cứu biên soạn cuốn sách lịch sử Đảng bộ và nhân dân lực lượng vũ trang Hoà Khánh từ năm 1930-1975. Được Đảng, Nhà nước tuyên dương "Anh hùng Lực Lượng vũ trang nhân dân" ngày 06/1 1 1978. Qua cuốn sách này chúng ta có thể thấy được bức tranh toàn cảnh về lịch sử Đảng bộ Hoà Khánh có lúc thăng trầm đầy khó khăn ác liệt, có lúc trưởng thành cùng sự nghiệp cách mạng. Nhiều đồng chí Bí thư chỉ ủy trong nhà giam của giặc dù bị tra tấn tàn khốc cực hình nhưng một lòng cách mạng không phản bội xưng khai.
Nhiều chiến sĩ du kích quân ngày đêm bám trụ chiến đấu đánh giặc giữ làng nguyện một lời “một tấc không đi, một ly không rời" để diệt ác phá kìm, quần chúng nhân dân sẵn lòng giúp đỡ cách mạng, trực tiếp tham gia đấu tranh chính trị, binh vận rồi đóng góp vật chất tinh thần cho sự nghiệp cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Đáng tự hào cho quê hương Hòa Khánh là căn cứ địa vững chắc của tỉnh nhà, địa bàn chiến lược về quân sự để các đơn vị chủ lực về trú quân, làm bàn đạp tiến công vào tỉnh lỵ Hậu Nghĩa và hướng Tây Nam Sài Gòn. Những chiến công to lớn của Đảng bộ và nhân dân xã Hoà Khánh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như xây dựng truyền thống quê hương Hòa Khánh. Đó là niềm tự hào, là tấm gương sáng ngời, là biểu tượng chủ nghĩa yêu nước, là nguồn động viên to lớn cho tuổi trẻ Hoà Khánh ngày nay trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế
Để hoàn thành cuốn sách này Đảng uỷ -HĐND-UBND xã Hòa Khánh Nam Hòa Khánh Tây, Hoà Khánh Đông xin chân thành cảm ơn đồng chí Lê Mẫu, đồng chí Trần Công Thành, các đồng chí lão thành cách mạng trong và ngoài xã. Các đồng chí Bí thư chi uỷ, Xã đội trưởng- xã đội phó qua các thời kỳ, các đồng chí cựu chiến binh đã nhiệt tình đóng góp công sức, cung cấp nhiều tài liệu lịch sử quý báu. Xin cảm ơn sự quan tâm chỉ đạo của Thường trực Huyện uỷ, HĐND, UBND, Ban Tuyên giáo Huyện uỷ, các ban ngành đoàn thể của Huyện. Xin cảm ơn Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia) đã giúp chúng tôi hoàn thành và cho ra mắt bạn độc cuốn sách này nhân dịp Quốc khánh 2/9/2008.
Do điều kiện cuộc chiến tranh quá dài và ác liệt, tư liệu về các sự kiện lịch sửa đã thất lạc nhiều. Vì vậy, cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong cán bộ, lực lượng vũ trang, nhân dân trong và ngoài xã góp ý bổ sung để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong những lần tái xuất.
LỜI GIỚI THIỆU
CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ MẪU
Nguyên bí thư Huyện ủy Đức Hòa
Tôi sinh ra, lớn lên trên quê hương Đức Hòa là một mãnh đất giàu truyền thống cách mạng gắn liền sự nghiệp hoạt động cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, không có thời kỳ nào tôi lại không trực tiếp chỉ đạo và hoạt động ở vùng căn cứ Hoà Khánh. Trải qua hai cuộc kháng chiến thăng trầm và ác liệt, trên cương vị khác nhau qua các thời kỳ. Có lúc là chính trị viên Huyện đội, có lúc Bí thư Huyện ủy Đức Hòa Chính trị viên Tỉnh đội Long An. Từ đó tôi luôn nắm được tình hình Hòa Khánh vì đây là địa bàn rất thuận lợi cho ta xây dựng căn cứ địa quan trọng của Huyện và Tỉnh. Đồng thời cũng là một trong những xã có phong trào chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, nồng cốt là du kích quân sớm được hình thành tổ chức hoạt động rộng khắp. Phong trào đấu tranh chính trị dồn dân vào ấp chiến lược của quần chúng khá mạnh mẽ, phát triển kinh tế, xây đựng hậu cần tại chỗ phục vụ cho các cuộc chiến tranh trong những thời điểm khó khăn nhất.
Những chiến công to lớn của 2 cuộc kháng chiến đi qua mà Đảng bộ và nhân dân, lực lượng vũ trang Hoà Khánh đạt được trước hết là sự bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng vận dụng sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác Lênin trong đấu tranh vũ trang và nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, là điều kiện cụ thể một phương pháp luận đúng đắn của chiến tranh chính nghĩa Việt Nam. Phù hợp hoàn toàn lợi ích giai cấp, lợi ích nhân dân Việt Nam nói chung, nói riêng là con em Hoà Khánh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc ngày nay. Cũng chính bắt nguồn chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng yêu nước Hồ Chí Minh. Chính từ đây những con người ưu tú của Hoà Khánh đã trở thành những chiến sĩ yêu nước, những đảng viên kiên trung, những du kích quân cầm súng chiến đấu với kẻ thù. Những bậc hiền tài và chiến sĩ ấp tồn tại chiến đấu vượt qua khó khăn đi đến ngày toàn thắng là do sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân Hoà Khánh.
Hoà Khánh trở thành căn cứ địa vững chắc của Huyện và Tỉnh nhà. Lý do có địa hình hiểm trở, địa lý thuận lợi dựa lưng vào con sông Vàm Cỏ Đông đi vào lịch sử nối liền với cùng biên giới Đức Huệ, Bến Lức, Thủ Thừa và cơ động được đến các vùng giồng.
Đúc kết trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đi qua Hoà Khánh làm nên địa danh kiên cường anh dũng. Trong chiến đấu làm cho kẻ thù khiếp vía khi đặt chân trên Hoà Khánh. Những người đã sinh ra, nuôi dưỡng và bảo vệ các chiến sĩ cách mạng để cho lực lượng vũ trang Hoà Khánh lớn mạnh trưởng thành, làm nồng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc. Biết kết hợp 3 mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận đặc biệt là đánh địch bằng vũ khí thô sơ tự tạo diệt nhiều xe tăng và tên lính giặc.
Tôi rất vui mừng khi Đảng bộ của ba xã Hoà Khánh ngày nay đã có chung nguyện vọng và tâm quyết tổ chức biên niên lại lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân, lực lượng vũ trang Hoà Khánh. Cuốn sách này như bức tranh thu hẹp, sẽ ghi lại những thành tích đấu tranh của Đảng bộ và nhân dân Hoà Khánh. Nhưng cũng giúp các thế hệ sau này hiểu được lịch sử Hoà Khánh cũng như sự hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước cho cuộc sống nhân dân, ấm no, hòa bình, hạnh phúc. Ngày nay tôi vui mừng giới thiệu cuốn sách này đến nhân dẫn Đức Hòa-Long An và toàn thể bạn đọc.
HÒA KHÁNH NGÀY NAY
VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA XÃ HÒA KHÁNH
TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG
1- Các xã Hòa Khánh ngày nay:
Ngày nay ở Huyện Đức Hoà-Tinh Long An có ba xã cùng mang tên Hòa Khánh. Đó là Hòa Khánh Nam, Hòa Khánh Đông và Hòa Khánh Tây.
Xã Hòa Khánh Nam, có diện tích 1.603,37 ha, dân số 7.357 người, gồm 4 ấp (Thuận Hòa I, Thuận Hòa II, Xuân Khánh I, Xuân Khánh II)
Xã Hòa Khánh Đông, có diện tích 1.451ha, dân số 8.972 người, gồm 4 ấp (Thôi Môi, Giồng Ngang, Bình Thủy, Bình Lợi) Xã Hòa Khánh Tây, diện tích 2.976 ha, dân số 9.423 người, gồm 5 ấp (Tân Bình, Lập Thành, Hóc Thơm I, Hóc Thơm II, Bùng Binh)
Nhân dân các xã Hoà Khánh ngày nay vẫn sống bằng nghề nông là chính. Các loại cây trồng chủ yếu là lúa, mía, đậu và hoa màu. Ngoài ra, một số người đã trở thành công nhân làm việc trong các khu công nghiệp ở Huyện và các khu công nghệp vành đại thành phố HCM.
Phần lớn nhân dân Hòa Khánh theo tín ngưỡng đạo Phật và thờ cúng tổ tiên, thờ cúng những vị Tiền hiền, Hậu hiền và những anh hùng có công giữ nước. Ngoài ra có một số ít người theo đạo Cao Đài, Thiên chúa giáo.
Ngày nay đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các xã Hòa Khánh đã được cải thiện nhiều so với thời kỳ trước khi đất nước thực hiện đường lối đổi mới. Hầu hết các gia đình đã được dùng điện sinh hoạt, sản xuất và được dùng nước sạch. Nhiều gia đình đã mua sắm được máy móc nông nghiệp và các tiện nghi sinh hoạt như điện thoại, TV, đầu máy hát, tủ lạnh xe gắn máy...Về cơ sở hạ tầng giao thông và phương tiện công cộng như xe khách, xe tải cũng khá phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống và sản xuất của nhân dân.
Nhân dân các xã Hòa Khánh có được cuộc sống ấm no hạnh phúc như ngày nay là nhờ các thế hệ đi trước đã đổ mồ hôi, công sức xây dựng quê hương và đổ máu xương để giành lại độc lập tự do. Vì vậy các thế hệ sau rất cần được biết ông cha mình đã xây dụng và chiến đấu để bảo vệ quê hương như thế nào.
2- Địa phận xã Hoà Khánh trong thời kỳ kháng chiến.
Trước cách mạng tháng 8-1945, Huyện Đức Hòa chỉ có một xã mang tên Hòa Khánh, địa phận bao gồm ba xã Hòa Khánh ngày nay. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ta chia Hòa Khánh thành ba xã là: Hòa Khánh đông, Hòa Khánh hạ và Hòa Khánh thượng. Đến năm 1954 lại sáp nhập thành một xã Hòa Khánh cho đến năm 1975. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Hòa Khánh lại được chia thành ba xã như ngày nay.
Xã Hòa Khánh trong kháng chiến cách Sài gòn khoảng 30km về phía tây, cách thị xã Tân An khỏang 40km về phía tây bắc, cách thị trấn Đức Hòa 6 km, cách thị trấn Hậu Nghĩa 6 km.
Xã Hòa Khánh trong kháng chiến có diện tích 6.043 ha, phía bắc giáp thị trấn Hậu Nghĩa và xã Đức Lập, phía đông giáp thị trấn Đức Hòa và xã Đức Hòa Thượng, phía tây giáp xã Tân Phú, phía nam là sông Vàm Cỏ đông (bên kia là Huyện Đức Huệ) và xã Hựu Thạnh.
Hoà Khánh trong kháng chiến có 10 ấp là: Thôi Môi, Giồng Ngang, Bình Thủy, Bình Lợi, Thuận Hoà, Xuân Khánh, Tân Bình, Lập Thành, Hóc Thơm, Bùng Binh.
Thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, địa bàn Đức Hòa, Hòa Khánh thuộc tỉnh Chợ Lớn, sau đó thuộc tỉnh Long An cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến 30 năm.
Trong kháng chiến, Hòa Khánh có vị trí quân sự rát quan trọng đối với cả ta và địch.
Đối với miền đông Nam bộ, Hòa Khánh là địa bàn nối tiếp giữa vùng ven đô với vùng căn cứ biên giới Đức Huệ.
Đối với Sài Gòn, Hòa Khánh nằm trong vành đai bảo vệ thành phố, đồng thời có thể trở thành căn cứ của lực lượng ta và là bàn đạp khi tấn công Sài Gòn.
Đối với Long An, Hòa Khánh là một khâu quan trọng của tuyến hành lang vận chuyển và cơ động lực lượng vũ trang từ phía bắc xuống phía nam của Tỉnh.
Đối với Đức Hoà, Hòa Khánh có vị trí tiếp nối giữa vùng giống với vùng sông, nối với Hựu Thạnh, Bến Lức và nối với Đức Huệ. Từ Hòa Khánh, lực lượng ta có thể cơ động đi nhiều hướng và có thể uy hiếp hai thị trấn Hậu Nghĩa và Đức Hòa.
Hòa Khánh có mạng giao thông đường bộ khá thuận tiện với nhiều hương lộ và tỉnh lộ như: lộ 8, lộ 10. lộ 31, những con lộ này nổi Hòa Khánh với thị trấn Đức Hòa, Hậu Nghĩa và các xã khác trong huyện. Đường thủy có sông Vàm Cỏ đông đi Tây Ninh, đi Bến Lức, Tân An và ra sông Soài Rạp. Ngoài ra trong xã còn có nhiều kênh rạch nhỏ tạo thành mạng giao thông đường thủy nội bộ và nối với sông Vàm Cỏ đông.
Dân số Hòa Khánh trong kháng chiến có khoảng 6500 người phần lớn là người Việt đã sinh sống lâu đời ở vùng đất này, ngoài ra còn có một số ít là người Hoa và người Khme. Trong suốt thời kỳ đấu tranh cách mạng, nhân dân Hòa Khánh cũng sống bằng nghề nông như trồng lúa, mía, đậu phộng, thuốc lá, chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Phần lớn dân Hòa Khánh theo đạo Phật, thờ cúng tổ tiên, một số ít theo đạo Cao Đài, Thiên chúa giáo. Đời sống vật chất của nhân dân trong kháng chiến có rất nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng tinh thần luôn hướng về Đảng, hướng về Bác Hồ và ủng hộ kháng chiến.
Tóm lại, trong suốt thời kỳ kháng chiến, Hoà Khánh là một xã lớn của huyện Đức Hòa và có vai trò quan trọng về kinh tế, quân sự đối với Huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An và chiến trường vùng ven phía tây Sài Gòn.
3- Truyền thống đoàn kết trong lao động và đấu tranh của nhân dân Hòa Khánh thời kỳ phong kiến thực dân.
Trước khi có Đảng cộng sản Việt Nam (1930), nhân dân Nam bộ nói chung và nhân dân Hòa Khánh nói riêng đã có bề dầy lịch sử gần ba thế kỷ lao động sản xuất và đấu tranh chống phong kiến thực dân. Quá trình ấy diễn ra như sau:
Khai phá đất đai xây dựng xóm làng (Thế kỷ XVII- Thế kỷ XIX)
Sử sách còn ghi, trong thời nhà Nguyễn, Đức Hòa là tên của một thôn trong tổng Long Hưng thuộc Huyện Tân Long (Tổng này có 74 thôn). Đến năm 1913 thực dân Pháp đã sát nhập Tổng cầu An Thượng và cầu An Hạ để lập Huyện Đức Hòa, cái tên đó của huyện được dùng cho đến ngày nay.
Theo những câu chuyện từ xưa còn lưu truyền thì cái tên Hòa Khánh đã có từ khoảng năm 1827. Sự tích đặt tên làng được kể lại như sau:
Trong lớp người đầu tiên đến vùng này có gia đình ông Nguyễn Văn Khâm là người có công khai phá đất đai sớm nhất. Lớp sau có gia đình ông Thi Văn Dầy sinh được ba người con trai là Thị Văn Hoà, Thi Văn Khánh và Thi Văn Cao. Gia đình họ Thi xây dựng cơ nghiệp ở đây từ khi vùng đất này chưa có tên.
Các ông trong gia đình họ Thi đều là những người giỏi làm ăn và có đầu óc xây dựng xóm làng. Chính các ông là người đầu tiên đặt tên cho nhiều địa danh của vùng còn hoang vắng này. Ở vùng sông các ông đã đặt tên cho 13 con kinh, rạch là: rạch Hóc Thơm, kinh ông Cha, rạch Miễu, rạch Đình Nhựt, rạch Cầu Kè, rạch Quán Đôi, rạch Lò, rạch Xẻo Lá, kinh Ngang, rạch Giàm Xay, rạch Xẻo Tranh, Rạch Thố Mố, Rạch cầu ông Huyện. Ở vùng giồng, các ông đặt tên cho 12 nơi là: bào Bèo, bào Cua, bào Cạn, bào Lòng chảo, bào Mây, bào Sen, đìa Mối, gò Xoài Tiên, trụ đá tam giác, gò Tháp, bào Gùi, bào Sình...Những cái tên đó được giữ cho đến ngày nay.
Người em thứ ba trong nhà họ Thi là ông Thi Văn Cao nghe nói ở vàm Thố Mố có hai ngôi đình quay mặt vào nhau, gọi là đình Giao Khẩu, ông Cao lội qua sông Vàm Cỏ đông đi tìm ngôi đình giao khẩu nhưng không may gặp cá sấu nên qua đời sớm.
Sau khi người em mất, ông Hòa và ông Khánh làm ăn rất chăm chỉ nên đã tạo dựng được cơ ngơi khá lớn. Hai ông vốn là người tốt bụng và có sản nghiệp nên thường giúp đỡ những người mới đến lập nghiệp và những người gặp khó khăn, vì vậy được mọi người rất kính nể.
Vào khoảng năm 1827, ông Huyện Hàm là người cai quản vùng Đức Hòa đã biết đến công đức của gia đình họ Thị nên đã lấy tên ông Hòa và ông Khánh để đặt tên cho làng này. Sau khi làng được đặt tên, hai ông đã đứng ra cùng mọi người xây dựng ngôi đình làng làm nơi thờ cúng các bậc tiền hiền và làm nơi lễ hội cho nhân dân. Khi ngôi đình xây xong, nhà vua đã phong “sắc thần đình làng” cho người có công khai phá sớm nhất là ông Nguyễn Văn Khâm vì ông này đã qua đời. Từ đó nhân dân Hòa Khánh có nơi thờ các bậc “Tiền hiền” có công đầu khai phá đất đại và gây dựng làng xóm.
Câu chuyện trên được lưu truyền đến ngày nay như lời nhắc nhớ các thế hệ sau phải luôn nhớ đến công lao khai phá của những người đi trước. Đó là nét truyền thống tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân Việt Nam nói chung và của nhân dân Hòa Khánh nói riêng.
Trong suốt thời kỳ khai hoang lập ấp, đến khi Nam bộ bị thực dân Pháp xâm lược, cuộc sống của người dân Hòa Khánh tuy còn nghèo khó vất vả nhưng khá bình yên vì vùng đất này không bị ảnh hưởng nhiều bởi những cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn Phong kiến.
Đấu tranh chống phong kiến, thực dân (Thế kỷ XIX đến 1930). Giữa Thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng đánh chiếm Sài Gòn rồi chiếm các tỉnh Nam bộ. Từ đó cuộc sống của người dân Hòa Khánh bắt đầu có những thay đổi lớn cả về tinh thần và vật chất.
Trước sức mạnh quân sự vượt trội của thực dân Pháp, quan quân nhà Nguyễn không đủ sức chống lại, để giặc chiếm hết chỗ này đến chỗ khác. Không những thế, triều đình còn ngăn cấm những người yêu nước đánh Tây. Ông Trương Định tuy chỉ là một chức võ quan nhỏ của nhà Nguyễn nhưng đã khảng khái, dám trái lệnh triều đình để cùng những người yêu nước và anh em binh lính tụ nghĩa dựng cờ khởi binh ở đất Gò Công. Cảm phục tấm lòng yêu nước của ông, nhân dân Nam bộ đã tôn vinh ông là “Bình Tây đại nguyên soái” .
Cuộc khởi nghĩa do Trương Định lãnh đạo đã lan rộng khắp Nam bộ, nghĩa quân đã đến ven sông Vàm Cỏ đông và chọn Hòa Khánh làm căn cứ vì ở đây giáp sông lại có thế tiến thoái đều lợi. Nghĩa quân đã được nhân dân ở đây cung cấp lương thực và gúpđỡ nơi đóng quân, cho mượn ghe xuồng qua sông... một số trai làng đã đi theo nghĩa quân đánh giặc.
Sau khi Trương Định bị ám hại, các cuộc khởi nghĩa khác lại tiếp nối nổ ra như của Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Võ Duy Dương, Đốc Binh Kiều...nghĩa quân của các cuộc khởi nghĩa này vẫn dựa vào vùng sông Vàm Cỏ động, Hòa Khánh và vẫn được nhân dân tận tình giúp đỡ.
Các cuộc khởi nghĩa chống thực dân của các sỹ phu yêu nước lần lượt bị đàn áp, triều đình nhà Nguyễn phải ký các hiệp trớc nhượng đất cho Tây nên người dân Nam bộ bị bọn địa chủ và thực dân thì nhau cướp đoạt ruộng đất. Từ đó, người dân Hòa Khánh phải sống dưới hai tầng áp bức, bóc lột của thực dân và phong kiến kéo dài gần 80 năm.
Đến đầu thế kỷ XX, ở Nam bộ xuất hiện những phong trào đấu tranh do các chí sỹ yêu nước là Phan Bội Châu, Phan Châu Trình khởi xướng. Phong trào phát triển mạnh ở Sài Gòn và các vùng lân cận, trong đó có Đức Hòa và Hòa Khánh.
Thời kỳ này còn có tổ chức yêu nước của nông dân gọi là "Thiên địa hội" do Phan Xích Long khởi xướng-còn gọi là “hội kín”. Tổ chức này cũng kết nạp được nhiều hội viên ở Đức Hòa và Hòa Khánh. Sau khi phong trào thất bại, ở Đức Hòa lại xuất hiện một tổ chức khác là "Hội kín Nguyễn An Ninh".
Nguyễn An Ninh là nhà hoạt động yêu nước, ông lập “Hội kín” nhằm quy tụ những người yêu nước để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng độc lập dân tộc của Nguyễn Ái Quốc. Ông ra tờ báo ở Sài Gòn và đã đăng tải bản “Tuyên ngôn cộng sản” của Mác-Ăng ghen và “ Bản án chế độ thực dân” của Nguyễn Ái Quốc. Chính vì thế mà thực dân Pháp đã tìm mọi cách để ngăn cấm hoạt động của ông.
Ở Hòa Khánh, những người yêu nước đã thành lập “Hội kín Nguyễn An Ninh” do ông Nguyễn Văn Ngọn ở ấp Giồng Ngang làm "đầu chỉ”. Hội viên có các ông: Phan Văn Phuông, Phan Văn Tánh, Trần Văn Chánh, Thi văn Hân và một số người khác. Nguyễn An Ninh thường xuyên về Hoà Khánh để tổ chức hội họp, kết nạp hội viên mới và phân phát tài liệu yêu nước. Cáccuộc họp của “hội kin" thường được tổ chức tại nhà ông Nguyễn Văn Ngon.
Nguyễn An Ninh rất gần gũi với nhân dân Hòa Khánh, khi gặp bà con nông dân, ông rất ân cần hỏi thăm gia đình và công việc đồng áng. Nhiều người dân Hòa Khánh còn chứng kiến ông đối đáp bằng tiếng Pháp rất tự tin với những tên lính thực dân khi bị chúng xét hỏi. Hình ảnh của nhà yêu nước Nguyễn An Ninh còn mãi trong lòng nhân dân Hòa Khánh.
Sau khi Nguyễn An Ninh bị thực dân Pháp sát hại, các “Hội kin” tan rã nhưng nhiều nhà yêu nước khác vẫn tiếp tục hoạt động ở Đức Hòa, tài liệu, sách báo cách mạng vẫn được lưu truyền ở Hòa Khánh.
Đến năm 1929, ở Nam bộ đã xuất hiện những tổ chức cộng sản đầu tiên, Hòa Khánh cũng là địa bàn hoạt động thường xuyên của những tổ chức này.
Như vậy, trong suốt thời kỳ vận động thành lập Đảng. Hòa Khánh là một trong những địa bàn hoạt động của các cá nhân và các tổ chức, phong trào yêu nước, qua đó nhân dân Hòa Khánh đã được tiếp xúc và bước đầu tiếp thu được những tư tưởng yêu nước và cách mạng của những người cộng sản.
Nhìn lại cả quá trình lịch sử lâu dài gần ba thế kỷ từ thời khai hoang lập ấp đến trước khi thành lập Đảng, với bề dầy lịch sư đoàn kết lao động và đấu tranh chống thực dân phong kiến, các thế hệ tiếp sau đã giữ vững và phát huy những truyền thống tốt đẹp, giữ vững những phẩm chất và năng lực sáng tạo của cha ông để chuẩn bị bước vào một thời kỳ lịch sử mới-thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.